Nhận diện, dự phòng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật

  10:06 AM 07/11/2025
Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật (PONV – Postoperative Nausea and Vomiting) là một trong những biến chứng thường gặp nhất trong giai đoạn hồi tỉnh và hậu phẫu sớm. Dù không đe dọa trực tiếp tính mạng, PONV lại gây khó chịu đáng kể cho người bệnh, có thể dẫn đến mất nước, rối loạn điện giải, tăng đau, và thậm chí là hít sặc chất nôn, làm chậm quá trình hồi phục.

Theo Hội Gây mê Hồi sức Hoa Kỳ, tỷ lệ PONV dao động từ 20–30%, và có thể lên đến 80% ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao [8]. Trong bối cảnh nâng cao chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh, PONV được xem là một chỉ số phản ánh hiệu quả công tác gây mê – hồi sức và chăm sóc hậu phẫu [6].
Điều dưỡng gây mê hồi sức không chỉ hỗ trợ bác sĩ trong thực hiện kỹ thuật mà còn là người theo dõi, phát hiện sớm và phối hợp triển khai các biện pháp dự phòng – can thiệp phù hợp nhằm giảm thiểu biến chứng này.

Hình 1. Bệnh nhân sau phẫu thuật có biểu hiện buồn nôn.

Các yếu tố nguy cơ gây buồn nôn và nôn sau phẫu thuật

Nhận diện sớm yếu tố nguy cơ là bước đầu tiên trong công tác dự phòng. Các yếu tố được chia theo nhóm người lớn và trẻ em.
Ở người lớn:
Những yếu tố nguy cơ độc lập được xác định gồm: giới tính nữ; không hút thuốc lá; tiền sử say tàu xe hoặc PONV trong các lần mổ trước; sử dụng opioid sau phẫu thuật [4,8]. Theo thang điểm Apfel, nguy cơ PONV tăng dần từ 10% đến 80% khi có từ 0 đến 4 yếu tố trên [8].
Ở trẻ em:
Theo thang điểm Eberhart, các yếu tố nguy cơ gồm: trẻ ≥ 3 tuổi; tiền sử PONV của bản thân hoặc người thân gần; phẫu thuật chỉnh lé mắt; thời gian phẫu thuật > 30 phút [1]. Một số phẫu thuật có nguy cơ cao như: cắt amidan, nạo VA, mổ tai giữa [1].
Giảm thiểu yếu tố nguy cơ:
Giảm yếu tố nguy cơ cơ bản giúp hạn chế đáng kể tỷ lệ PONV [4,5]. Các biện pháp gồm: ưu tiên gây tê vùng khi có thể; dùng propofol trong khởi mê và duy trì mê [3]; tránh nitrous oxide và thuốc mê bốc hơi; giảm liều hoặc thay thế opioid bằng giảm đau đa mô thức; bồi phụ dịch – điện giải đầy đủ.

Dự phòng và điều trị buồn nôn, nôn sau phẫu thuật

Sử dụng thuốc chống nôn trong dự phòng:
Tùy theo mức độ nguy cơ, chiến lược sử dụng thuốc chống nôn được khuyến cáo như sau [5]:
- Nguy cơ thấp: Không cần thuốc chống nôn.
- Nguy cơ trung bình: Ondansetron + Dexamethasone.
- Nguy cơ cao: Ondansetron + Dexamethasone + gây mê tĩnh mạch toàn phần.
Liều dùng:
Ondansetron: Người lớn 4–8 mg, trẻ em 50–100 mcg/kg (tối đa 4 mg), tiêm cuối phẫu thuật [2].
Dexamethasone: Người lớn 4–8 mg, trẻ em 150 mcg/kg (tối đa 5 mg), tiêm khi khởi mê [9].
Điều trị cứu vãn: Metoclopramide 10 mg hoặc Droperidol 0,625–1,25 mg [7].

Tiếp cận đa phương thức:
Phối hợp nhiều cơ chế thuốc và điều chỉnh kỹ thuật gây mê được gọi là dự phòng đa phương thức (multimodal approach). Cách tiếp cận này không chỉ làm giảm tỷ lệ PONV mà còn nâng cao hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí [5,6].

Hình 2. Phác đồ dự phòng và điều trị PONV [5].

Điều dưỡng gây mê hồi sức giữ vai trò trung tâm trong quá trình theo dõi và quản lý PONV [9].
Nhận diện sớm nguy cơ: Đánh giá tiền sử bệnh nhân, loại phẫu thuật, thuốc mê và giảm đau sử dụng.
Phối hợp dự phòng: Thực hiện y lệnh thuốc chống nôn đúng thời điểm, theo dõi dấu hiệu buồn nôn, phối hợp bác sĩ điều chỉnh giảm opioid [5].
Theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật: Quan sát, ghi nhận nôn, buồn nôn, tình trạng mất nước, đặt tư thế an toàn, hướng dẫn bệnh nhân hít thở sâu [6].
Giáo dục và tư vấn: Giải thích cho người bệnh, hướng dẫn ăn nhẹ, tránh ăn sớm .

Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật là biến chứng thường gặp nhưng hoàn toàn có thể dự phòng nếu được nhận diện sớm và áp dụng chiến lược phù hợp [5]. Vai trò của điều dưỡng gây mê hồi sức trong phát hiện, dự phòng và chăm sóc người bệnh có nguy cơ cao là vô cùng quan trọng [9]. Khi công tác này được thực hiện đồng bộ giữa bác sĩ và điều dưỡng, hiệu quả hồi phục của người bệnh được nâng cao rõ rệt, góp phần cải thiện chất lượng điều trị và an toàn người bệnh tại các cơ sở y tế [6].

TS, BS Đinh Thị Thu Trang; CNĐD. Nguyễn Thị Thúy

– Khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện TWQĐ 108

 

Tài liệu tham khảo:

  1.  Association of Paediatric Anaesthetists of Great Britain and Ireland. Guidelines on the prevention of post‐operative vomiting in children. Spring 2009.

  2. Candiotti KA, Nhuch F, Kamat A et al. Granisetron versus ondansetron treatment for breakthrough postoperative nausea and vomiting after prophylactic ondansetron failure: a pilot study. Anesth Analg 2007;104:1370–3.

  3. Gan TJ, Glass PS, Howell ST et al. Determination of plasma concentrations of propofol associated with 50% reduction in postoperative nausea. Anesthesiology 1997;87:779–84.

  4.  Gan TJ. Risk factors for postoperative nausea and vomiting. Anesth Analg 2006;102:1884–98.

 Gan TJ, Diemunsch P, Habib AS et al. Consensus Guidelines for the Management of Postoperative Nausea and Vomiting. Anesth Analg 2014;118(1):85–113.

  1.  Hill RP, Lubarsky DA, Phillips-Bute B et al. Cost-effectiveness of prophylactic antiemetic therapy with ondansetron, droperidol, or placebo. Anesthesiology 2000;92:958–67.

  2.  Kazemi-Kjellberg F, Henzi I, Tramèr MR. Treatment of established postoperative nausea and vomiting: a quantitative systematic review. BMC Anesthesiol 2001;1:2.

  3.  Koivuranta M, Läärä E, Snåre L et al. A survey of postoperative nausea and vomiting. Anaesthesia 1997;52:443–9.

9. Nguyễn T. Đức, Phan Q. T. (2024). Đánh giá hiệu quả dự phòng buồn nôn, nôn sau phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi của Ondansetron phối hợp Dexamethasone. Tạp chí Y học Việt Nam, 542(1).

Chia sẻ