Hội chứng bàn chân - tay và vai trò chủ động của người bệnh khi sử dụng thuốc Đích (TKIs) điều trị ung thư biểu mô tế bào gan

  04:13 PM 11/02/2026

Ung thư gan, chủ yếu là ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma – HCC), là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh cao, phần lớn người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, hạn chế các phương pháp điều trị triệt căn. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm nhiễm virus viêm gan B, C mạn tính, xơ gan do rượu và gan nhiễm mỡ không do rượu.

Điều trị toàn thân bằng thuốc nhắm trúng đích được chỉ định cho người bệnh ung thư gan giai đoạn tiến triển hoặc không còn khả năng điều trị tại chỗ. Các thuốc đích thường sử dụng hiện nay như Sorafenib, Lenvatinib, Regorafenib … tác động thông qua ức chế các thụ thể tyrosine kinase, làm giảm tăng sinh tế bào ung thư và quá trình tân tạo mạch máu khối u. Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc đích giúp cải thiện thời gian sống thêm và kiểm soát tiến triển bệnh.

Tuy nhiên, thuốc đích thường gây ra các tác dụng không mong muốn như hội chứng bàn tay – bàn chân, tăng huyết áp, tiêu chảy và suy giảm chức năng gan. Việc theo dõi, chăm sóc và tư vấn người bệnh đóng vai trò quan trọng trong tuân thủ, nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống. Nếu người bệnh hiểu rõ và chủ động chăm sóc, tình trạng này hoàn toàn có thể kiểm soát được, giúp duy trì sinh hoạt và điều trị hiệu quả.

Hình ảnh tổn thương bàn chân- bàn tay của người bệnh sử dụng thuốc đích.

 

Hội chứng bàn chân - tay

Hội chứng bàn chân – tay là tình trạng tổn thương da xảy ra ở lòng bàn tay và gan bàn chân do thuốc điều trị đích. Da có thể đỏ, đau rát, bong tróc, nứt nẻ hoặc nặng hơn là phồng rộp, loét, được chia thành 3 mức độ:

Mức độ I (Nhẹ): Thay đổi da ít hoặc viêm da không đau (đỏ da)

- Triệu chứng: Tê nhẹ, ngứa ran hoặc châm chích ở lòng bàn tay và bàn chân. Da đỏ nhẹ hoặc hơi sưng. Ít hoặc không ảnh hưởng sinh hoạt hằng ngày.
Đây là giai đoạn sớm, việc nhận biết và chăm sóc đúng cách giúp ngăn bệnh tiến triển nặng hơn.

 

 

Mức độ II (Trung bình): Thay đổi da mức độ vừa (sưng phù), đau nhẹ gây ảnh hưởng đến sinh hoạt một phần

Triệu chứng: Đau rát vừa, sưng rõ, ban đỏ lan rộng. Da dày lên hoặc xuất hiện vết nứt nhỏ. Gây khó khăn khi đi lại, cầm nắm. Cần can thiệp tích cực và có thể điều chỉnh thuốc theo chỉ định bác sĩ.

 

Mức độ III (Nặng): Thay đổi da nhiều (tróc da, bóng nước, loét da) gây đau nhiều và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hằng ngày

Triệu chứng: Đau dữ dội, loét sâu, phồng rộp, chảy máu hoặc nhiễm trùng. Sinh hoạt hằng ngày bị hạn chế nghiêm trọng. Cần can thiệp y tế chuyên sâu, thường phải giảm liều hoặc tạm ngưng thuốc.

 

 

Để giữ cho đôi bàn tay – chân khỏe mạnh, Khoa Điều trị Gan- Mật- Tụy, Bệnh viện TWQĐ 108 khuyến cáo người bệnh:

- Các triệu chứng thường xảy ra ở giai đoạn sớm từ 2- 4 tuần đầu điều trị, đa số gặp ngay trong 2 tuần đầu và thường giảm dần theo thời gian.

- Người bệnh không nên quá lo lắng về các phản ứng da bàn tay- chân.

- Các triệu chứng không gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy nhiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

- Một số nghiên cứu cho thấy các biểu hiện này có thể là dấu hiệu của đáp ứng thuốc tốt hơn, là tác dụng phụ có thể quản lý được, không phải thất bại trong điều trị.

- Người bệnh cần tuân thủ điều trị: Không tự ý thay đổi liều thuốc đích và luôn báo cáo bác sỹ điều trị về tác dụng phụ kịp thời điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp, phòng ngừa nhiễm trùng và các biến chứng nặng nề hơn.

Một số hoạt động tự chăm sóc

 

Một số hoạt động tự chăm sóc bản thân dành cho người bệnh:

- Nhận biết sớm: Phân biệt cảm giác tê bì thông thường với dấu hiệu ban đỏ, sưng tấy cần can thiệp.

- Dưỡng ẩm thường xuyên: Sử dụng kem dưỡng ẩm không mùi, không cồn, có thành phần như Urea, Lactic Acid.

- Chườm/Ngâm mát: Người bệnh ngâm tay - chân trong nước mát (tuyệt đối không dùng nước đá trực tiếp) để giảm sưng tấy và đau rát. Hỗ trợ quá trình tái tạo da, giảm triệu chứng khó chịu.

- Tránh nhiệt độ cao: Không tắm nước quá nóng, không dùng máy sấy tóc sấy tay/chân.

- Tránh áp lực/ma sát:  Luôn đi giày/dép có đế mềm, rộng rãi, tránh giày cao gót hoặc giày bó chật. Ưu tiên chất liệu thoáng khí. Hạn chế mang vác vật nặng, đứng lâu, tránh các dụng cụ cần cầm nắm chặt

- Đeo găng tay bảo vệ: Luôn đeo găng tay cotton khi đi ngủ (sau khi đã bôi kem dưỡng ẩm) và đeo găng tay cao su (có lớp lót cotton bên trong) khi làm việc nhà tiếp xúc với nước/hóa chất. Tránh đeo găng tay cao su không có lớp lót.

- Tránh hóa chất mạnh: Dùng găng tay khi rửa chén/giặt đồ. Tránh các dung dịch tẩy rửa, cồn, nước hoa có mùi mạnh.

Giảm tác động vật lý và hóa học lên vùng da đã nhạy cảm do thuốc.

- Thói quen cắt móng: Cắt thẳng, không cắt sâu vào khóe để tránh viêm nhiễm.

- Chế độ Dinh dưỡng: Uống đủ nước để giữ ẩm cho da từ bên trong. Ăn nhiều thực phẩm giàu Vitamin C và E (chống oxy hóa) và Protein (hỗ trợ tái tạo mô da).

- Duy trì tinh thần lạc quan và chia sẻ khó khăn với gia đình, bạn bè, hoặc nhóm hỗ trợ bệnh nhân.

Một số loại kem dưỡng ẩm

 

CNĐD. Chu Việt Anh

Khoa Điều trị Gan- Mật- Tụy, Bệnh viện TWQĐ 108

Chia sẻ