Kỹ thuật chuyên sâu khoa chẩn đoán và can thiệp tim mạch


Kỹ thuật can thiệp nút phồng động mạch não vỡ bằng coils

Chảy máu dưới nhện do vỡ phồng động mạch não (PĐMN) là loại đột quỵ chảy máu não thường gặp với diễn biến phức tạp và nặng nề, đe doạ tính mạng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Diễn biến tự nhiên của bệnh khá phức tạp, đã được các nghiên cứu trên thế giới thông báo tỷ lệ tử vong sau 01 tuần là 16,1%, sau 01 tháng là 34,7% và sau 01 năm là 44,9%.

Gần đây phương pháp can thiệp nội mạch nút túi phồng bằng coils (coiling) đã được phát triển nhanh chóng. Can thiệp điều trị triệt để túi PĐMN càng sớm càng tốt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cứu sống bệnh nhân và hạn chế mức độ tàn phế.

Tại Việt Nam số lượng các bệnh viện có khả năng chẩn đoán, điều trị can thiệp bệnh mạch máu thần kinh đang tăng dần, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị cho các bệnh nhân mạch máu não nói chung và PĐMN nói riêng, nhất là các trường hợp đã vỡ. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 triển khai các kỹ thuật can thiệp mạch thần kinh từ nhiều năm nay, đã thu được những kết quả khả quan.


Phồng động mạch cảnh trong được nút kín hoàn toàn

(bên trái: Trước nút coils và bên phải: Sau nút coils 06 tháng)


Liên hệ: Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch
Điện thoại: 04.62.784.139.



Phương pháp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học Solitaire ở bệnh nhân nhồi máu não cấp


Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. Đột quỵ thiếu máu hay nhồi máu não (NMN) chiếm tỷ lệ chủ yếu khoảng 80-85% các bệnh nhân đột quỵ não.

Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch dùng chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (rtPA) được xem là điều trị chuẩn mực đối với bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não nhập viện sớm trong cửa sổ 4,5 giờ đầu tính từ lúc khởi phát triệu chứng.

Lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học có thể tái thông được các mạch máu lớn, cửa sổ điều trị lên 08 giờ đối với tuần hoàn bên và có thể tới 12 giờ đối với hệ tuần hoàn sau. Vì vậy, lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học là một phương pháp bổ sung rất tốt cho những hạn chế của tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch. Có nhiều dụng cụ cơ học lấy huyết khối nhưng sử dụng stent Solitaire và hệ thống hút huyết khối penumbra là những dụng cụ có hiệu quả hơn cả.

Chỉ định:
Chẩn đoán xác định là nhồi máu não cấp tính bằng cắt lớp vi tính (CLVT) hoặc cộng hưởng từ (CHT), có điểm NIHSS từ 8 đến 30.
- Chống chỉ định hoặc thất bại với tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch.
- Thời gian từ lúc khởi phát các triệu chứng nhồi máu não đến lúc kết thúc điều trị lấy huyết khối trong vòng 08 tiếng.
- Bệnh nhân có tắc động mạch cảnh trong, động mạch não giữa, động mạch thân nền (chụp CTA/MRI/DSA xác định).

Tắc động mạch cảnh trong trước can thiệt Hình ảnh động mạch cảnh trong lưu thông tốt sau can thiệp


Liên hệ: Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch
Điện thoại: 04.62.784.139.




Điều trị u xơ tử cung không phải phẫu thuật

Bằng phương pháp tắc mạch u xơ tử cung, các bác sỹ bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã trị u xơ tử cung mà không cần phải phẫu thuật.

TS Lê Văn Trường, Chủ nhiệm Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch - Viện Tim mạch, Bệnh viện (BV) Trung ương quân đội 108, cho biết: u xơ tử cung (UXTC) là u lành tính của các tế bào cơ trơn tử cung. Khoảng 30% phụ nữ ở độ tuổi 30 - 50 mắc bệnh này. Trước đây, thường phải phẫu thuật để trị u và như vậy phụ nữ sẽ không còn quyền làm mẹ.

Tỷ lệ thành công 95%
Phương pháp tắc mạch (UXTC) là phương pháp không phẫu thuật nhằm triệt tiêu nguồn máu nuôi UXTC. Sử dụng một ống thông nhỏ và mềm đưa qua động mạch đùi để đi đến động mạch tử cung hai bên. Tiếp theo, chất gây tắc là các hạt PVA (PolyVinyl Alcohol) được bơm vào và làm tắc hai động mạch tử cung. Khối UXTC sẽ bị hoại tử vô trùng và teo nhỏ dần vì thiếu máu, trở thành sẹo nhỏ trên thành tử cung. Phương pháp điều trị này có hiệu quả cao và phải gây mê, làm mất máu, không để lại sẹo trên bụng, không can thiệp vào ổ bụng. Giữ lại khả năng có thai và sinh con. Sau 2 - 3 ngày có thể ra viện, hồi phục sức khỏe nhanh.


Phương pháp tắc mạch UXTC sẽ giúp bảo tồn chức năng làm mẹ. Trong ảnh: Một ca phẫu thuật cắt bỏ tử cung tại BV Trung ương Quân đội 108


Tỷ lệ thành công của phương pháp này đạt hiệu quả 95%. Bệnh nhân hết hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn triệu chứng trong 1 - 2 tháng đầu tiên sau điều trị. Khối u xơ teo nhỏ dần sau 3 - 6 tháng, tối đa sau một năm. Đặc biệt, các trường hợp bệnh nhân có nhiều nhân xơ cũng có đáp ứng tốt với kỹ thuật này. Nhân xơ tái phát sau điều trị bằng phương pháp này rất hiếm gặp, chỉ khoảng 1% số ca điều trị.

Phương pháp tắc mạch UXTC sẽ giúp bảo tồn chức năng làm mẹ. Trong ảnh: Một ca phẫu thuật cắt bỏ tử cung tại BV Trung ương Quân đội 108.

Theo TS Lê Văn Trường, quan niệm về bệnh UXTC chỉ mắc trên đối tượng đã lập gia đình là sai lầm. Phụ nữ sau khi lập gia đình và sinh con mắc nhiều hơn vì các yếu tố sau sinh con thuận lợi cho khối u xơ phát triển. Thời gian gần đây, Khoa Can thiệp tim mạch tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị u xơ tử cung ở lứa tuổi trẻ, chưa lập gia đình, thậm chí có bệnh nhân mới chỉ 17 tuổi.
Chỉ nên có thai sau 1 năm điều trị

Các BS cho biết, khả năng thụ thai và sinh đẻ sau điều trị tắc mạch UXTC phụ thuộc từng bệnh nhân. Tuy nhiên, những trường hợp muốn có thai sau điều trị cần được khám và kiểm tra siêu âm màu chặt chẽ và tỷ mỷ hơn. Chỉ nên có thai sau 9 -12 tháng kể từ ngày điều trị.

Hầu hết bệnh nhân sẽ có chu kỳ bình thường ngay trong tháng đầu tiên, nếu bị rối loạn nặng có thể có kinh sau 2 - 3 tháng. Một số trường hợp có thể bị vô kinh trong vài tháng đầu, khoảng 2 - 3% bị mất kinh hoàn toàn do suy buồng trứng. Ngoài ra, một số trường hợp bị giảm lượng kinh nguyệt.

Sau khi nút mạch, khối UXTC sẽ giảm dần kích thước, đạt mức độ tối đa sau 9 - 12 tháng. Khi siêu âm kiểm tra thấy còn hình ảnh khối u nhỏ, nhưng thực chất đó chỉ là sẹo. Một số ít trường hợp nhân xơ bị hoại tử, rơi vào lòng tử cung và bị đẩy ra ngoài theo đường tự nhiên.

Sau khi điều trị u xơ tử cung không cần phẫu thuật, bệnh nhân cần chú ý: đi lại nhẹ nhàng trong một tuần đầu; tránh ăn các chất kích thích như ớt, tiêu;không ngâm mình trong bồn tắm hai tuần đầu; kiêng sinh hoạt vợ chồng trong tháng đầu; đến khám định kỳ: 3 - 6 - 12 tháng sau điều trị.
Theo Báo Đất Việt



Kỹ thuật can thiệp đặt stent động mạch vành

Bệnh nhân có bệnh động mạch vành:
- Triệu chứng chủ yếu là Cơn đau thắt ngực
- Bệnh hình thành do vữa xơ động mạch, làm hẹp lòng động mạch vành, gây thiếu máu và nhồi máu cơ tim
- Chụp động mạch vành bằng ống thông là phương pháp tốt nhất khẳng định chẩn đoán bệnh
- Mục tiêu điều trị: tái lưu thông động mạch vành


Hẹp – tắc ĐM vành
Mô hình nong và đặt stent
Hẹp ĐM vành trước và sau đặt stent





Kỹ thuật nong - đặt stent động mạch chậu – chi dưới
Nếu bệnh nhân có các triệu chứng

 Đau, co cứng bắp chân / đùi / mông khi vận động (đi bộ, đạp xe...), không thể tiếp tục đi nữa, nghỉ thì hết, vận động lại đau (đau cách hồi)
 Chân lạnh, sắc da tái nhợt, đau bàn - ngón chân liên tục kể cả khi nghỉ
 Loét, hoại tử ngón chân, bàn chân...
Cần nghĩ đến thiếu máu chi dưới do bệnh hẹp tắc mạn tính động mạch chậu – chi dưới
è Bệnh nhân cần được khám và điều trị tái lưu thông động mạch chi dưới càng sớm càng tốt để phục hồi khả năng lao động, tránh nguy cơ bị cắt cụt.
Kỹ thuật nong – đặt stent động mạch chậu –chi dưới có thể được xử dụng.

Sơ đồ hẹp ĐM chậu
Trước đặt stent
Sau đặt stent
Cho sức mạnh đôi chân


Liên hệ: Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch
Điện thoại: 04.62.784.139.




Kỹ thuật tạo Shunt cửa - chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh trong điều trị và dự phòng chảy máu tái phát do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày ở bệnh nhân xơ gan.

Xơ gan là bệnh khá phổ biến ở nước ta. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một trong các tiến triển tất yếu của xơ gan. Một trong các biến chứng nặng nề và có tỉ lệ tử vong cao nhất của tăng áp lực tĩnh mạch cửa là chảy máu tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày.

Các phương pháp điều trị chảy máu tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày rất phong phú, gồm các nhóm phương pháp như điều trị nội khoa, điều trị nội soi, phẫu thuật ngoại khoa và tạo shunt cửa chủ trong gan TIPS (transjugular intrahepatic portosystemic shunt).

TIPS là một phương pháp tạo shunt cửa - chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh trong phải, được chỉ định cho các trường hợp chảy máu do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản mà các biện pháp nội khoa và nội soi thất bại; dự phòng chảy máu tái phát ở bệnh nhân xơ gan tăng áp lực tĩnh mạch cửa đã điều trị bằng các biện pháp nội soi không đạt hiệu quả; cổ trướng dai dẳng và hội chứng Budd - Chiari.

Kỹ thuật TIPS đã được áp dụng điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 09/2009. Cho đến nay, kỹ thuật TIPS được đưa vào như một kỹ thuật thường quy trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Hình ảnh giãn tĩnh mạch thực quản trên nội soi trước can thiệp
TIPS (trái) và sau can thiệp TIPS (phải).

Liên hệ: Khoa Chẩn đoán và Can thiệp Tim mạch
Điện thoại: 04.62.784.139.


Chia sẻ