Hầu hết các liệu pháp điều trị ung thư hiện nay đều tiềm ẩn nguy cơ gây ra phản ứng liên quan đến truyền dịch (Infusion – related reactions - IRR), với các biểu hiện lâm sàng từ nhẹ đến sốc phản vệ thậm chí đe dọa tính mạng. Giai đoạn chuẩn bị trước truyền và dự phòng bằng thuốc (Pre-medication) là hàng rào bảo vệ đầu tiên, đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các phản ứng liên quan đến truyền dịch (IRR). Hướng dẫn của Hiệp hội Nội khoa Ung thư Châu Âu (ESMO) năm 2017 và bản đồng thuận ESMO cập nhật năm 2024 đã đưa ra khuyến nghị bảng tra cứu đặc điểm và cách thức dự phòng IRR của từng thuốc. Thông qua việc áp dụng các checklist kiểm tra tiền sử, chuẩn bị trang thiết bị hồi sức tại giường và tuân thủ phác đồ thuốc dự phòng chuẩn hóa, nhân viên y tế không chỉ đảm bảo an toàn tối đa cho bệnh nhân mà còn tránh được việc gắn nhãn "dị ứng thuốc" sai lầm, từ đó duy trì cơ hội điều trị bằng các liệu pháp đầu tay tối ưu.
1. Định nghĩa và phân loại các phản ứng liên quan đến truyền dịch
Định nghĩa: Theo định nghĩa của CTCAE phiên bản 5.0 của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, phản ứng liên quan đến truyền dịch (IRR) là một tình trạng rối loạn đặc trưng bởi các phản ứng có hại khi truyền các chất dược lý hoặc chế phẩm sinh học. Các phản ứng này không phụ thuộc vào liều lượng, không thể dự đoán trước, thường không liên quan đến hoạt tính dược lý của thuốc và thường thuyên giảm khi tạm ngừng truyền.
Phân loại theo cơ chế: Cơ chế của các phản ứng liên quan đến truyền dịch (IRR) trong điều trị ung thư rất phức tạp và đa dạng. Dựa trên các nguồn tài liệu, IRR được chia thành hai nhóm cơ chế chính: Trung gian miễn dịch (dị ứng thực thụ) và Không trung gian miễn dịch (không dị ứng). Việc hiểu trước cơ chế phản ứng IRR của thuốc sắp truyền giúp bác sĩ chuẩn bị tâm lý và thuốc dự phòng phù hợp hơn.
Bảng 1: Phân loại cơ chế phản ứng truyền dịch IRR
|
Đặc điểm |
Trung gian miễn dịch |
Không trung gian miễn dịch |
|
Cơ chế chính |
Đây là các phản ứng quá mẫn được kích thích bởi các cơ chế miễn dịch đặc hiệu. Thường liên quan đến kháng thể IgE đối với các protein lạ. |
Phản ứng không có nguyên nhân miễn dịch chủ yếu gồm: + Hội chứng giải phóng cytokine: Xảy ra do sự tương tác giữa thuốc và tế bào đích dẫn đến việc giải phóng ồ ạt các cytokine vào hệ tuần hoàn + Phản ứng giả dị ứng: xảy ra do thuốc tác động trực tiếp gây giải phóng hạt từ tế bào mast và tế bào ưa kiềm mà không cần sự hiện diện của IgE. + Liên quan đến tá dược: Phản ứng có thể do các thành phần tá dược gây ra hơn là chính hoạt chất, chẳng hạn như Cremophor EL trong Paclitaxel hoặc Polysorbate 80 trong Docetaxel |
|
Thời điểm xuất hiện |
Điển hình khởi phát ở những lần tiếp xúc sau (chu kỳ 6-8 trở đi), sau khi cơ thể đã có giai đoạn mẫn cảm với thuốc. |
Thường xảy ra ngay trong lần truyền đầu tiên hoặc lần thứ hai |
|
Nhóm thuốc điển hình |
+ Nhóm Platinum (như Carboplatin, Oxaliplatin) + Một số kháng thể đơn dòng cũng có khả năng gây ra cơ chế này |
Phổ biến nhất ở các kháng thể đơn dòng và hóa trị liệu nhóm Taxan |
|
Tái sử dụng thuốc |
Thường không khuyến khích do nguy cơ đe dọa tính mạng cao |
Có thể tái sử dụng phụ thuộc mức độ phản ứng, giám sát bằng cách giảm tốc độ truyền và tối ưu thuốc dự phòng trước truyền. |
2. Dấu hiệu và triệu chứng phản ứng liên quan đến truyền dịch
Các biểu hiện lâm sàng của IRR khác nhau tùy từng bệnh nhân và giữa các tác nhân điều trị, có thể có mức độ nghiêm trọng khác nhau và có thể liên quan đến các hệ thống cơ quan khác nhau. Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến nhất của IRR bao gồm:

Hình 1. Các dấu hiệu và triệu chứng của các phản ứng liên quan đến truyền dịch
3. Các yếu tố liên quan đến phản ứng IRR
Các phản ứng liên quan đến truyền dịch (IRR) rất phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi sự tương tác của nhiều yếu tố khác nhau, từ đặc điểm của loại thuốc, cách sử dụng và từ yếu tố bệnh nhân. Đầu tiên là yếu tố liên quan đến thuốc. Một số nhóm thuốc có nguy cơ gây IRR cao hơn hẳn, điển hình là nhóm Taxan (Paclitaxel, Docetaxel), các hợp chất Platinum (Carboplatin, Oxaliplatin, Cisplatin) và các kháng thể đơn dòng (mAbs) như Rituximab hay Cetuximab. Đôi khi chính thành phần tá dược mới là tác nhân gây phản ứng chính chứ không phải hoạt chất thuốc. Ví dụ, Cremophor EL trong Paclitaxel có thể kích hoạt hệ thống bổ thể, hoặc Polysorbate 80 trong Docetaxel có liên quan đến việc giải phóng histamine.
Thứ hai liên quan đến cách sử dụng thuốc. Đường truyền tĩnh mạch được xác định là có nguy cơ gây IRR cao hơn đáng kể so với đường tiêm dưới da. Thêm vào đó, tốc độ truyền càng nhanh thì nguy cơ xảy ra IRR càng lớn. Việc giảm tốc độ truyền thường là biện pháp hiệu quả để giảm thiểu nguy cơ này. Đối với một số thuốc như Carboplatin, nguy cơ IRR tăng dần theo số lần tiếp xúc, đạt tỷ lệ cao nhất vào khoảng chu kỳ thứ 8 -9.
Cuối cùng là yếu tố liên quan đến bệnh nhân, bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh dị ứng nghiêm trọng, hen suyễn hoặc từng có phản ứng da nhẹ trong những đợt điều trị trước đó có nguy cơ cao tiến triển IRR nặng. Các tình trạng như rối loạn chức năng hô hấp, bệnh tim mạch, béo phì hoặc các rối loạn tế bào mast làm tăng khả năng xảy ra phản ứng phản vệ. Ngoài ra, bệnh nhân có gánh nặng khối u cao có nguy cơ bị hội chứng giải phóng cytokine (CRS) và hội chứng ly giải khối u nặng nề hơn, đặc biệt khi bắt đầu điều trị bằng hóa trị hoặc kháng thể đơn dòng. Một số yếu tố khác như các thuốc dùng kèm (thuốc chẹn beta hoặc thuốc ức chế men chuyển) có thể làm tăng nguy cơ hoặc làm trầm trọng thêm mức độ của phản ứng phản vệ.
4. Dự phòng trong quản lý phản ứng truyền dịch IRR

Hình 2. Quản lý phản ứng truyền dịch
Bảng 2. Đặc điểm và dự phòng phản ứng truyền dịch đối với một số thuốc hóa trị
|
Thuốc |
Tỷ lệ gặp các IR |
Khởi phát |
Dấu hiệu/triệu chứng |
Phòng ngừa |
Quản lý |
|---|---|---|---|---|---|
|
Anthracyclin |
7%–11% với doxorubicin và daunorubicin liposom được PEG hóa. |
Phần lớn các trường hợp IR xảy ra ở lần truyền đầu tiên |
Đau ngực, ngứa, ớn lạnh, sốt, nổi mề đay, phù mạch, phát ban, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, khó thở, buồn nôn/nôn, đau đầu, đau lưng |
Tốc độ truyền chậm. Không khuyến cáo dự phòng thường quy |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm. |
|
Carboplatin |
Tỷ lệ mắc bệnh từ 8% đến 16%, tăng từ 1% với ≤6 lần truyền dịch lên 27% với ≥7 lần truyền dịch, và lên đến 46% với >15 lần truyền dịch. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở chu kỳ 8 hoặc 9 |
Từ vài phút đến vài giờ. Nguy cơ tăng theo liều tích lũy. Tỷ lệ mắc cao nhất ở chu kỳ 8 |
Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, phát ban, ngứa, ban đỏ ở lòng bàn tay, bàn chân, đau bụng, phù mặt, co thắt phế quản, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, khó thở, đau ngực, sưng mặt hoặc sốc phản vệ |
Không khuyến cáo dự phòng thường quy do có thể không ngăn ngừa được IR. Cân nhắc dự phòng ở những bệnh nhân có nguy cơ cao |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm. |
|
Docetaxel |
30% IR khi không dự phòng. 5% (2% phản ứng nghiêm trọng) ngay cả khi dự phòng |
Liều đầu tiên hoặc liều thứ hai, trong vòng 10 phút đầu sau khi truyền |
Hạ huyết áp, khó thở, co thắt phế quản, nổi mề đay, phản ứng da, phù mạch, đỏ bừng mặt, ngứa, nhịp tim nhanh, đau ngực hoặc đau lưng |
Dexamethason PO 8 mg x 2 lần/ngày trong 3 ngày (bắt đầu 1 ngày trước khi dùng docetaxel) hoặc Dexamethason PO 8mg vào lúc 12h, 3h, 1h trước khi truyền |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm. |
|
Etoposid |
1%–3% phản ứng giống sốc phản vệ |
Thường sau liều đầu tiên |
Hạ huyết áp, sốt, ớn lạnh, nổi mề đay, co thắt phế quản, phù mạch, khó chịu ở ngực |
Truyền chậm trong 30–60 phút. Dự phòng với corticosteroid và thuốc kháng histamin |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm. |
|
Oxaliplatin |
7%–24%. 0,5%-2% phản ứng nghiêm trọng |
Trong vòng 60 phút sau khi bắt đầu truyền dịch (thường là 5–10 phút). Tỷ lệ mắc tăng theo |
Đổ mồ hôi, chảy nước mắt, ngứa, phát ban, đau lưng hoặc ngực, co thắt thanh quản, khó thở, sốt, nổi mề đay, co thắt phế quản, hạ huyết áp |
Không khuyến cáo dự phòng thường quy do có thể không ngăn ngừa được IR. Cân nhắc dự phòng ở những bệnh nhân có nguy cơ cao |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm. Truyền dịch trong 6 giờ |
|
Paclitaxel |
30% IR khi không dự phòng. Liên kết với albumin: 4% khi không dự phòng. Liên kết với cremophor: 10% dù đã dự phòng. |
Liều đầu tiên hoặc liều thứ hai, trong vòng 10 phút đầu sau khi truyền |
Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đỏ bừng, phản ứng da, khó thở, tức ngực, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, co thắt phế quản, phù mạch, nổi mề đay |
Tiêm tĩnh mạch một liều Dexamethason + diphenhydramin 50 mg IV + kháng H2 (ranitidin 50 mg hoặc cimetidin 300 mg IV) 30 phút trước khi truyền |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Cân nhắc liệu pháp giải mẫn cảm |
|
Cisplatin |
5%–20%, tăng lên theo số chu kỳ điều trị và khi kết hợp với xạ trị. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn sau chu kỳ 6 |
Phản ứng đầu tiên thường xuất hiện vào lần tái sử dụng thuốc thứ hai hoặc thứ ba trong phác đồ điều trị hàng hai, tương ứng với đợt điều trị thứ 8 hoặc 9 tính tổng cộng |
Nổi mề đay, ngứa, khó thở, hạ huyết áp. |
Uống đủ nước và dùng thuốc chống nôn để ngăn ngừa buồn nôn và nôn |
Thoát dịch ra ngoài mạch máu: Ngừng truyền dịch ngay lập tức, hút bỏ dịch tích tụ và truyền natri thiosulfat. |
|
Procarbazin |
6%-18% Cao hơn khi sử dụng đồng thời thuốc chống co giật. 2% phản ứng nghiêm trọng |
Chủ yếu trong những chu kỳ đầu |
Phát ban, nổi mề đay, phù mạch, hoại tử thượng bì nhiễm độc, sốt |
Thuốc steroid và diphenhydramin. Việc dùng thuốc dự phòng bằng corticosteroid đường uống thường không hiệu quả khi phản ứng miễn dịch xảy ra, cần phải tạm ngừng điều trị |
Mức độ 1/2: điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực |
|
Bleomycin |
1% |
Có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau vài giờ, thường là sau liều đầu tiên hoặc thứ hai |
Sốt, ớn lạnh, lú lẫn tâm thần, hạ huyết áp, thở khò khè. Khởi phát đột ngột hội chứng đau ngực cấp gợi ý viêm màng phổi - màng tim trong quá trình truyền dịch |
Liều ≤2 đơn vị cho hai liều đầu tiên ở bệnh nhân u lympho, do có thể xảy ra phản ứng phản vệ. Nếu không IRR, tiếp tục theo lịch dùng thuốc thông thường |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực |
|
Kháng thể đơn dòng |
|||||
|
Rituximab |
Hiệu quả 77% ngay lần truyền đầu tiên. 10% trường hợp nặng |
Thường xảy ra trong 2 giờ đầu của lần truyền dịch đầu tiên. Ít xảy ra hơn ở các lần truyền dịch tiếp theo. (63% lần truyền đầu tiên, 9% lần truyền thứ hai, 15% ở chu kỳ 3-10, 7% ở chu kỳ 11-20, 6% ở chu kỳ 20-53) |
Sốt, ớn lạnh, phát ban, ngứa, phù mạch, khó thở, hạ huyết áp, buồn nôn, viêm mũi, nổi mề đay, suy nhược, co thắt phế quản. Quan sát thấy các triệu chứng của hội chứng ly giải khối u và hội chứng giải phóng cytokine |
Thuốc hạ sốt và thuốc kháng histamin. Giảm tốc độ truyền dịch ban đầu. Có thể xem xét sử dụng corticosteroid nếu không được dùng cùng với hóa trị. Nếu khối u lớn, giảm tốc độ truyền dịch cho lần truyền đầu tiên hoặc chia liều trong 2 ngày |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng bằng thuốc kháng histamin, acetaminophen và methylprednisolon trước khi dùng thuốc. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Có thể tiếp tục điều trị với một nửa tốc độ trước đó sau khi tất cả các triệu chứng đã hết, trừ trường hợp phản ứng nghiêm trọng |
|
Cetuximab |
12%-19% 15%-21% ở mức độ 1/2 2%-5% ở mức độ 3/4 dù có dự phòng hay không |
Trong hoặc sau lần truyền dịch đầu tiên (>90%) và các lần truyền dịch tiếp theo. Từ phút đầu tiên truyền dịch đến sau 1 giờ |
Đỏ mặt, buồn nôn, nôn mửa, phát ban, sốt, nổi mề đay, ớn lạnh, co thắt phế quản, khó thở, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, thay đổi huyết áp |
Corticosteroid + thuốc kháng histamine trước liều đầu. Có thể dự phòng cho các lần truyền tiếp theo nếu không có phản ứng trong chu kỳ đầu. Truyền liều đầu tiên chậm + theo dõi sát sao các dấu hiệu sinh tồn trong ít nhất 2 giờ |
Mức độ 1/2: ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Có thể tiếp tục điều trị với tốc độ chậm hơn sau khi hết tất cả các triệu chứng, trừ trường hợp phản ứng nghiêm trọng |
|
Daratumunab |
42%-48% trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III của thuốc |
Thời gian trung bình đến khi xuất hiện phản ứng là 1,4 giờ. >90% xảy ra trong lần truyền dịch đầu tiên. 7% xảy ra trong lần thứ hai hoặc ba. 5% xảy ra trong nhiều hơn một chu kỳ |
Nghẹt mũi, buồn nôn, nôn, ho, kích ứng họng, ớn lạnh (mức độ 1-2 trong 90%-95% trường hợp). Khó thở, co thắt phế quản, phù thanh quản và phổi, thiếu oxy, tăng huyết áp (mức độ 3 trong 5%-10% trường hợp) |
1 giờ trước mỗi lần truyền dịch: corticosteroid IV [(methyl)-prednisolone 100 mg hoặc tương đương], thuốc hạ sốt đường uống (paracetamol 650-1000 mg) và thuốc kháng histamin PO/IV (diphenhydramin 25-50 mg hoặc tương đương). Sau lần truyền dịch thứ hai: liều corticosteroid IV có thể giảm [(methyl)prednisolon 60 mg] |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng (thuốc kháng histamin, thuốc giãn phế quản). Tiếp tục truyền dịch với tốc độ bằng một nửa khi bệnh nhân ổn định và điều chỉnh liều lượng đến khi dung nạp được. Mức độ 3: Ngừng truyền dịch + điều trị triệu chứng tích cực. Tiếp tục điều trị với tốc độ bằng một nửa nếu phản ứng cải thiện xuống mức độ ≤2 và điều chỉnh liều lượng đến khi dung nạp được. Ngừng hẳn nếu phản ứng ở mức độ ≥3 trong lần truyền dịch tiếp theo. Mức độ 4: Ngừng hẳn |
|
Bevacizumab |
Lên đến 5%. <3% trong lần truyền đầu tiên. <1% trường hợp nặng |
Chủ yếu trong lần truyền dịch đầu tiên |
Tăng huyết áp, khó thở, rét run, đỏ bừng mặt, phát ban, thay đổi huyết áp, đau ngực, buồn nôn, nôn |
Không khuyến cáo dự phòng trước khi điều trị. Truyền lần đầu tiên nên trong 90 phút, nếu dung nạp tốt thì lần thứ hai trong 60 phút và các lần tiếp theo trong 30 phút |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng điều trị + điều trị triệu chứng tích cực. Tiếp tục điều trị với tốc độ chậm hơn sau khi các triệu chứng thuyên giảm, trừ trường hợp phản ứng nghiêm trọng (ví dụ: sốc phản vệ), cần ngừng điều trị |
|
Trastuzumab |
16,2%-40%, chủ yếu là độ 1-2. 6,5% là độ 2. 0,6%-5% là trường hợp nặng (thường sau nhiều lần tiếp xúc). Có một số báo cáo về trường hợp tử vong |
Phản ứng thường xảy ra trong lần truyền dịch đầu tiên và giảm dần về tần suất sau đó: 45%-91% trong lần truyền dịch đầu tiên, 29% trong lần thứ hai, 20% trong lần thứ ba. Khi phản ứng xảy ra trong giờ đầu tiên, khả năng xảy ra phản ứng nghiêm trọng tiếp theo sẽ cao hơn |
Ớn lạnh, sốt, khó thở, hạ huyết áp, thở khò khè, co thắt phế quản, nhịp tim nhanh, giảm độ bão hòa oxy, suy hô hấp, phát ban, buồn nôn, nôn, đau đầu. Các triệu chứng hô hấp (65%) và ớn lạnh/run rẩy (32%) ở bệnh nhân IRR nặng |
Không khuyến cáo dự phòng nhưng có thể sử dụng để giảm nguy cơ IRR. Thuốc kháng histamin và corticosteroid kết hợp với tốc độ truyền rất chậm (3 và 5 giờ thay vì 90 phút) |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch + theo dõi bệnh nhân cho đến khi các triệu chứng thuyên giảm + điều trị bằng thuốc giảm đau/hạ sốt hoặc thuốc kháng histamin. Có thể tiếp tục truyền dịch với tốc độ chậm hơn nếu tất cả các triệu chứng đã thuyên giảm. Mức độ 3/4: Ngừng truyền dịch + điều trị hỗ trợ (ví dụ: oxy, thuốc chủ vận beta, corticosteroid). Theo dõi bệnh nhân trong 6 giờ sau lần truyền dịch đầu tiên và ít nhất 2 giờ sau tất cả các lần truyền dịch tiếp theo |
|
Trastuzumab deruxtecan |
2,2% ở mọi cấp độ. 1,7%-2% trên nhiều loại khối u, tất cả đều ở cấp độ 1/2. 0,3% dẫn đến gián đoạn liều dùng |
|
Sốt, ớn lạnh, quá mẫn, đỏ bừng mặt, phản ứng tại chỗ, hạ huyết áp, thoát mạch tại chỗ truyền dịch, phát ban, thở khò khè |
Phối hợp sử dụng hai hoặc ba loại thuốc trước khi truyền dịch để ngăn ngừa buồn nôn và/hoặc nôn |
Theo dõi bệnh nhân trong và sau khi truyền dịch. Giảm tốc độ hoặc ngừng truyền dịch nếu bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng IRR. Mức độ 3/4: ngừng điều trị vĩnh viễn |
|
Panitumunab |
1,5%-5% 0,2%-1% cấp độ 3-4 |
Phản ứng chủ yếu (61,7%) xảy ra ở lần truyền đầu tiên. 14,9% ở lần truyền thứ hai. |
Đau đầu, phát ban, ngứa hoặc nổi mề đay, đỏ bừng mặt, sưng, nhịp tim nhanh và không đều, mạch nhanh, đổ mồ hôi, buồn nôn, nôn, chóng mặt, khó thở hoặc khó nuốt, giảm huyết áp có thể nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng, hiếm khi tử vong |
|
Mức độ 1/2: giảm tốc độ truyền dịch trong lần truyền hiện tại và tất cả các lần truyền tiếp theo. Mức độ 3/4 trong hoặc bất kỳ lúc nào sau khi truyền dịch (ví dụ: co thắt phế quản, phù mạch, hạ huyết áp, cần điều trị bằng đường tiêm, sốc phản vệ): ngừng điều trị vĩnh viễn. |
|
Liệu pháp miễn dịch |
|||||
|
Pembrolizumab |
3% <1% mức độ ≥3 0,2% nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng |
|
Sốt, ớn lạnh |
Có thể xem xét sử dụng thuốc hạ sốt và thuốc kháng histamin |
Mức độ 1/2: Ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch, theo dõi sát sao và điều trị triệu chứng. Mức độ 3/4: Ngừng và chấm dứt điều trị vĩnh viễn |
|
Durvalumab |
1,6% bất kỳ cấp độ nào 0,2% cấp độ 3 |
|
Ớn lạnh hoặc run rẩy, ngứa hoặc phát ban, đỏ mặt, khó thở hoặc thở khò khè, chóng mặt, sốt |
Có thể xem xét việc dùng thuốc dự phòng trước khi truyền dịch để phòng tránh các phản ứng phụ sau này |
Mức độ 1/2: ngừng hoặc giảm tốc độ truyền dịch. Mức độ 3/4: ngừng điều trị vĩnh viễn. Theo dõi bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng của IRR |
Biên soạn: DS Lê Thị Mỹ, DS Nguyễn Quỳnh Giang
Tài liệu tham khảo
1. Management of infusion reactions to systemic anticancer therapy: ESMO Clinical Practice Guidelines (2017)
2. Management of infusion-related reactions in cancer therapy: strategies and challenges (2024)